Địa đạo Vịnh Mốc kỳ tích trong lòng miền “đẩt lửa” Quảng Trị

Đã từng có một thời người dân Vịnh Mốc (huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) phải tựa vào mãnh đất quê hương bằng đôi tay, cuốc xẻng để đấu tranh sinh tồn đòi quyền sống, quyền được tồn tại trên chính mãnh đất bao đời cha ông đã gầy dựng. Họ xẻ lòng đất thành những đường hào chằng chịt để đi lại, họ đào sâu xuống lòng đất những đường địa đạo mênh mông để ăn ở, sinh hoạt và chiến đấu chống quân thù, tạo nên một hệ thống địa đạo dài hàng trăm cây số, được ví như kỳ tích sống trong lòng “đất lửa” Quảng Trị.

Sau Hiệp đinh Giơ-ne-vơ năm 1954, Vĩnh Linh, miền quê yên bình bao đời thuộc tỉnh Quảng Trị bỗng được cả nước và thế giới biết đến kể từ khi Bến Hải, dòng sông hiền hòa chảy qua địa phận Vĩnh Linh được chọn làm ranh giới quân sự tạm thời chia Việt Nam làm 2 miền Nam – Bắc. Từ đây, Vĩnh Linh trở thành tuyến đầu của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, cũng là địa bàn trực tiếp chi viện sức người, sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vị trí đặc biệt quan trọng đó, Vĩnh Linh trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của quân đội Mỹ trong suốt thời gian chiến tranh. Một vài số liệu thống kê của các nhà quân sự có thể giúp chúng ta phần nào hình dung sự khốc liệt của cuộc chiến, giữa một bên là là những nông dân với ý chí sắt đá, quyết tâm bám trụ quê hương, với một bên là đội quân nhà nghề với những khí tài có sức hủy diệt lớn, hiện đại nhất thời điểm bấy giờ. Vĩnh Linh, mãnh đất có diện tích chưa đầy 820km2 lại phải ghánh chịu một lượng bom đạn khổng lồ của quân đội Mỹ và đồng minh từ nhiều hướng dội vào. Trên không là đủ các loại máy bay, kể cả pháo đài bay B52 thi nhau nhả bom; phía Nam, hàng rào điện tử McNamara với hàng chục cụm pháo chĩa ra bờ Bắc sông Bến Hải liên tục nhả đạn; ngoài biển Đông, tàu của Hạm đội 7 thay nhau bắn vào vùng đất liền Vĩnh Linh. Suốt trong những năm 1965 – 1972, hầu như không ngày nào ở Vĩnh Linh ngớt tiếng đạn nổ bom rền. Người ta đã tính toán rằng cứ mỗi người dân nơi đây phải gánh chịu 7 tấn bom trong thời gian suốt 8 năm liền để nói lên sức chịu đựng quá giới hạn của người dân Vĩnh Linh.

Du khách đến thăm địa đạo Vịnh Mốc

Tuy nhiên, với truyền thống kiên cường chống xâm lăng, quân dân Vĩnh Linh vẫn quyết tâm bám trụ bảo vệ quê hương và giữ thông mạch máu chi viện, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Nếu như trên mặt đất đã bị quân thù hủy diệt bằng các loại vũ khí thì họ chuyển toàn bộ cuộc sống xuống lòng đất để tiếp tục tồn tại và chiến đấu. Trong mưa bom bão đạn quân thù, bằng những dụng cụ thô sơ như cuốc xẻng, xe cút kít, với bàn tay, khối ốc quân dân Vĩnh Linh đã kiến tạo một làng hầm đồ sộ với 114 địa đạo có chiều dài hơn 40km, sâu 15 – 30m trong lòng đất; đó là chưa kể hệ thống giao thông hào hơn 2.000km, kết nối các làng hầm với nhau. Mỗi địa đạo là hình ảnh thu nhỏ của một làng quê dưới lòng đất mẹ Vĩnh Linh. Đường hầm chính là đường làng, các ô đất là căn hộ gia đình. Hội trường với sức chứa 40 – 80 người trở thành ngôi nhà chung của làng, nơi diễn ra các cuộc hội họp, sinh hoạt văn nghệ. Ngoài ra, trong làng hầm còn có các công trình thiết yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày như trên mặt đất là giếng nước, nhà trẻ, trạm xá… Trong đó, địa đạo Vịnh Mốc nằm tại xã Vĩnh Thạch được đánh giá là có quy mô lớn nhất, tiêu biểu cho toàn bộ hệ thống làng hầm Vĩnh Linh trong giai đoạn trên, hiện vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn.

Nơi cửa hầm địa đạo Vịnh Mốc thông ra với biển

Chúng tôi tìm về thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh để gặp ông Hồ Văn Triêm, một trong những người từng tham gia đào và sinh sống trong lòng địa đạo Vịnh Mốc năm xưa. Dù nay đã ngoài 84 tuổi nhưng trí nhớ ông Triêm vẫn còn khá minh mẫn. Nhắc lại những ký ức chuyện đào hầm một thời, ông hào hứng kể lại rằng: “Đó là vào khoảng tháng 7/1965, cùng với việc quân đội Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng những loại bom đạn có sức công phá lớn thì những hầm hào trên mặt đất không đủ sức bảo vệ tính mạng con người, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ Vĩnh Linh, quân dân Vịnh Mốc đồng tâm quyết định đào địa đạo để tiếp tục bám trụ và chiến đấu chống quân thù. Quy trình đào một địa đạo được bắt đầu bằng bản vẽ trên giấy và sự đo đạc ước lượng trên mặt đất. Một tổ đào địa đạo chừng 4 – 5 người sẽ bắt đầu đào vào lòng đất bằng cách đào một giếng xuống độ sâu nhất định. Tiếp đó, mọi người sẽ kiên nhẫn đào thành đường hầm tiến về phía nhau cho đến khi gặp nhau dưới lòng đất…”.

Ông Hồ Văn Triêm, một trong những người tham gia đào địa đạo Vịnh Mốc

Theo lời kể của ông Triêm, ngày đó với khí thế chống quân thù ngút trời, ai cũng xông xáo nhận cho mình một công việc đào địa đạo. Từ thanh niên, nam phụ lão ấu cho đến những phụ nữ chân yếu tay mềm. Trong làn mưa bom, bão đạn, ngoài lực lượng thanh niên nòng cốt tham gia đào địa đạo, mọi người ai cũng được giao phần việc phù hợp với mình. Những người già được huy động chẻ tre, đan rổ, thúng, làm gióng dùng vào việc vận chuyển đất đào địa đạo; phụ nữ thì thay phiên nhau ghánh đất; người có sức khỏe yếu hơn thì được phân công giữ trẻ con cho những chị, những mẹ tham gia đào địa đạo… “Chúng tôi cứ đào, ngày này qua ngày khác, khoét sâu vào lòng đất mẹ để bảo tồn sự sống, chiến đấu cho ngày mai đất nước thống nhất”, ông Triêm bồi hồi nhớ lại.

Một cửa hầm của địa đạo Vịnh Mốc

Trong những năm tháng gian khổ và ác liệt đó, bên dưới những làng hầm địa đạo ở Vĩnh Linh cuộc sống vẫn tiếp tục sinh sôi, nảy nở. Đã có 60 em bé sinh ra và lớn lên trong giai đoạn này, riêng làng hầm địa đạo Vịnh Mốc có 17 đứa trẻ chào đời. Chị Hồ Thị Hường, con gái ông Hồ Văn Triêm là một trong số 17 đứa trẻ sinh ra, lớn lên trong lòng địa đạo Vịnh Mốc ngày ấy. Bây giờ, chị Hường đã bước sang tuổi 50, có chồng và sinh được 3 đứa con, trong đó 2 người con đã học xong đại học, đang làm việc trong ngành công an. Dù ký ức về những năm tháng sống dưới lòng đất chị Hường chỉ biết qua lời kể của mẹ cha nhưng chính nhờ đó mà chị càng trân trọng hơn công lao của đấng sinh thành đã sinh ra và nuôi nấng mình trong những ngày gian khổ đó.

Chiếc kẻng làm bằng mãnh bom Mỹ tại địa đạo Vịnh Mốc

Trong sổ lưu niệm tại Nhà trưng bày tại Khu di tích lịch sử địa đạo Vịnh Mốc vẫn còn lưu bút của nhiều du khách từng đến thăm địa đạo Vịnh Mốc. Đó là những dòng chữ đầy cảm phục của một du khác người Pháp về những người dân nhỏ bé nhưng ý chí lớn lao không gì sánh nổi; đó là dòng tâm sự đầy hối cải khi gặp lại và thấy được những đứa trẻ sinh ra, lớn lên trong lòng địa đạo nay đã trưởng thành của một du khách, cựu chiến binh người Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam lần đầu đến thăm địa Vịnh Mốc. “Chúng tôi thật có lỗi với các bạn. Chúng tôi hiểu sâu sắc về quyền sống, quyền được làm người của các bạn, vì lẽ đó, chiến thắng thuộc về phía các bạn”, du khác người Mỹ viết.

Bom đạn Mỹ trong chiến tranh được trưng bày tại địa đạo Vịnh Mốc

Hôm nay trên mãnh đất Vịnh Mốc, những hố bom, hố pháo năm xưa đã dần được thay thế bằng các vườn tiêu trĩu hạt, rừng cao su tốt tươi, những loại nông sản được xem là “vàng đen”, “vàng trắng” mang lại ấm no cho bao gia đình nơi vùng tuyến lửa năm xưa, đẩy lùi đói nghèo, lạc hậu. Chiến tranh đã lùi xa, hận thù đã không còn nữa nhưng hệ thống làng hầm Vĩnh Linh – địa đạo Vịnh Mốc sẽ mãi là di sản văn hóa vô cùng quý giá trường tồn mãi với thời gian, góp phần quan trọng giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh đã được Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt và đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản thế giới. Trên thực tế, địa đạo Vịnh Mốc đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nằm tuor du lịch DMZ “Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội”, mỗi năm thu hút hàng ngàn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu, học tập, đóng góp một phần không nhỏ cho kinh tế địa phương.

Trẻ em trên đường làng Vịnh Mốc hôm nay

Công Điền

Theo NA&ĐS/KT&DB

Loading...

Xem thêm

loading...